Home » Cổ truyền, Tiêu biểu sideshow, Văn hóa » Hai nữ lương y nổi tiếng thời nhà Trần

Thời nhà Trần xuất hiện các danh y nổi tiếng như Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh. Ngoài ra còn có hai nữ danh y lừng danh được dân chúng tôn kính thờ phụng như Thánh Mẫu.

Thuốc đông y

Đông y (Ảnh: Internet)

Lương y Lê Thị Liên

Vào đầu thời nhà Trần ở làng Thanh Nộn, xã Thi Sơn, tổng Quyển Sơn (nay là làng Thanh Nộn, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam) có bà Lê Thị Liên làm nghế thuốc chữa bệnh rất mát tay, bà được học nghề thuốc lúc nhỏ từ cha của mình là Lê Hoằng.

Lệ Thị Liên chữa bệnh tích lũy được nhiều kinh nghiệm, tìm tòi ra các phương thuốc hay, y đức đồn khắp gần xa.

Đầu năm 1285 đại quân Mông Cổ tiến đánh Đại Việt, cả nước bước vào cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ hai. Giữa lúc đó quân nhà Trần bị dịch bệnh khiến cả Triều đình lo lắng, nhiều lương y được tìm đến nhưng không dập tắt được dịch bệnh.

Nghe danh lương y Lê Thị Liên, Triều đình cử người tìm đến. Phương thuốc của bà giúp binh lính khỏi bệnh, góp công lớn vào chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ hai.

Sau khi chiến thắng, Triều đình ban thưởng cho bà rất hậu và muốn bà ở lại trong cung, vua Trần sắc phong cho bà làm Hoàng Tràng công chúa. Thế nhưng Lê Thị Liên không màng của cải và địa vị, mà chọn về làng quê chữa bệnh cho dân chúng, bà chia cả số tiền Triều đành bàn thưởng cho dân làng.

Sau khi bà mất, dân chúng rất thương tiếc, lập đền thờ hương khói quanh năm. Bài phú ở cửa đình làng cho thấy tấm lòng của dân chúng đối với bà:

Ngao ngán thay ngày 12 tháng 8

Hồ gào, beo thét, công chúa quy tiên.

Trông lên trời mây vàng xuất hiện,

Giây phút rồi tan đi.

Nghe rừng sâu gió thổi vu vi,

Như vẳng tiếng tiên thiều nhã nhạc.

Từ ngày ấy!

Dân ta thờ công chúa ở đình Cao,

Nhớ mãi công lao người danh y đại đạo.

Để đời đời dân cầu, quốc đảo.

Lương y Trần Ngọc Trân

Thời vua Trần Hiến Tông trị vì, ở làng Vô Hoạn, tổng Đồng Phù, thuộc phủ Thiên Trường (nay là thôn Vô Hoạn, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) có gia đình ông Trần Tông Môn và người vợ họ Đoàn ăn ở nhân đức, làng xóm quý mến. Hai vợ chồng được hai người con trai thông minh nên ai cũng khen ngợi.

Theo Thần tích chép lại thì một đêm nọ, người vợ họ Đoàn nằm mộng thấy có vị sứ giả áo xanh đến đưa mình lên thiên đình, Ngọc Hoàng sai đệ tam ngọc nữ giáng sinh vào nhà họ Trần để sau này cứu dân độ thế.

Người vợ họ Đoàn giật mình tỉnh giấc, thấy trong phòng còn thoang thoảng trong phòng mùi hương xạ, bên ngoài đêm khuya vằng vặc ánh trăng liền ra sân ngắm trăng, thấy có dấu hài liền đưa chân ướm thử vào.

Sau đó bà thụ thai và sinh được người con gái, hai vợ chồng có con gái thì rất mừng, nhớ lại giấc mộng Ngọc nữ giáng trần nên đặt tên cho con là Ngọc Trân. Sau này dân chúng từ câu chuyện này mà có câu:

Cung trời ứng mộng,
Điềm báo ướm hài.
Bùa thiêng thuốc tốt,
Giúp nước cứu dân.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, Ngọc Trân lớn lện trở thành cô gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, nhiều gia đình có ý dạm hỏi, nhưng cô chỉ thích học dệt vải và đi các nơi tìm thuốc.

Ngọc Trân rất thích làm thuốc cứu người, cô đọc rất nhiều sách về y thuật, lại đi các nơi tìm học hỏi với các bậc lương y, nên càng ngày càng tinh thông y lý, giỏi đoán bệnh, bào chế thuốc, giúp nhiều người dân quanh vùng khỏi bệnh.

Năm 1362 nhiều nơi trong cả nước bị trận dịch tả hoành hoành, Ngọc Trân đã bào chế ra thuốc “Hồng ngọc sương hoàn” vọ cùng hiệu quả, nhờ đó mà dân chúng quanh vùng được nhờ.

Việc này truyền đến vua Trần Dụ Tông, Vua liền cho cấp hát gạo cùng “Hồng ngọc sương hoàn” cho dân chúng ở hạt Tam Đới (nay thuộc Phú Thọ) và phủ Thiên Trường (nay thuộc Nam Định). Hiệu quả thần kỳ của “Hồng ngọc sương hoàn” khiến dịch bệnh chấm dứt.

Thời gian này nhiều người bị tả, người bệnh nhiều không đếm xuể, Ngọc Trân nghĩ cách bào chế ra loại thuốc giúp mọi người thuận tiện dùng được, vừa phòng và chữa bệnh mà không cần tìm đến thầy thuốc.

Cuối cùng Ngọc Trân chế tạo ra loại thuốc bằng cách tán nhỏ nhiều vị thuốc nam cuốn lại trong một mảnh giấy bản dài bằng ngón tay, rồi dặn người dân cứ đeo bên mình để tránh bệnh truyền nhiễm. Cách này vô cùng hiệu quả, người dân khi đeo túi này cũng yên tâm không lo bị nhiễm bệnh, lại vô cùng tiện lợi không cần phải đi khám chữa bệnh vất vả. Vì đây là loại thước đeo bên mình như bùa nên dân chúng hay gọi vui là “bùa thuốc”.

Ngọc Trân cho dựng y quán ở đầu làng Vô Hoạn, như thế dân chúng quanh vùng từ các nơi khác có thể dễ dàng tìm đến để chữa bệnh. Dân chúng truyền rằng y quán này có thần linh che chở, mỗi khi có cơn mưa bất chợt kéo đến, xung quanh mưa rất to, nhưng trong y quán nơi phơi thuốc thì lại không có giọt mưa nào, nhờ đó mà thuộc không bị hỏng.

Sau khi bào chế ra “Hồng ngọc sương hoàn”  linh nghiệm chữa dịch tả, thì danh tiếng nữ danh y Ngọc Trân bay xa, người dân quân vùng tìm đến, người dân nơi xa chữa bệnh lâu hết cũng tìm đến y quán của Ngọc Trân để chữa bệnh.

Ngọc Trân chữa bệnh không xuể, làm sẵn một số thuốc, cùng loại thuốc đeo bên mình mà dân chúng vẫn quen gọi là “bùa thuốc”, dân chúng gần xa đến mua thuốc cũng rất đông, nhất là loại “bùa thuốc”.

Rồi dân dần quanh y quán của Ngọc Trân đã có những quán nước mọc ra phục vụ người đến mua thuốc khám bệnh, rồi dần dần các quán bánh trái khác cũng nhanh chóng mọc ra, hình thành một khu chợ. Vì người đến mua “thuốc bùa” rất nhiều và ghé qua hàng chợ, nên dân chúng gọi chợ này là “Chợ Bùa”, chợ này vẫn còn đến ngày nay.

Theo thời gian ngôi chợ ngày càng đông, và thêm nhiều mặt hàng mua bán, từ hàng nước, bánh trái, thuốc thang, cho đến các mặt hàng nhu yếu phẩm đều có đầy đủ. Rồi nhà cửa cũng mọc lên ở nơi đây.

Thấy dân cư nơi đây đông đúc, Triều đình cho sáp nhập khu dân cư Chợ Bùa với trại Đồng gần đó thành một làng mới gọi là làng Đồng Bùa (âm Hán Việt đọc là Đồng Phù).

Một lần ngọc Trân ra khoảng đất ở xứ Đồng Quang rồi hóa ở đó, chỉ thấy chiếc nón cói úp xuống chứ không thấy hình hài bà đâu, nên dân chung cho rằng bà đã đến hạn về trời, bèn xây lăng tưởng nhớ đến bà gọi là “Lăng Mẫu” tôn kính bà như mẹ vậy.

Dân chúng cũng lập đền thờ bà tại y quán nơi Chợ Bùa, gọi là đền Đồng Phù. Ở làng Vô Hoạn cũng có đền thờ bà gọi là đền Vô Hoạn, suy tôn bà là Thánh Mẫu.

Đến thời nhà Hậu Lê, Triều đình sắc phong cho bà là Thượng đẳng tối linh thần, ban cho duệ hiệu là Ngọc Trân Đồng Quang. Đến thời nhà Tây Sơn lại gia phong là “Đạt Đức, Phù Tộ, Thánh Thiện”.

Dân chúng cho rằng Thánh Mẫu rất linh, ban phúc cho nhà nhà đều được yên ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Những nơi thờ tự Ngọc Trân có các câu đối ca ngợi công đức của bà như sau:

Ngọc nữ giáng trần, thanh dạ tinh quang truyền dị tích,
Kim đan cứu thế, Tiên châu dục tú xuất thần minh.

Nghĩa là:

Ngọc nữ giáng trần, sao sáng trời khuya còn truyền dấu lạ,
Kim đan cứu thế, châu Tiên khí tốt sinh bậc thánh thần.

Hàng năm lễ hội tưởng nhố Thánh Mẫu Đồng Phù bắt đầu từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch với nhiều tiết mục đặc sắc cùng nghi nễ như: Lễ rước kiệu ra lăng Mẫu, lễ tế, hát văn, múa mồi, múa hoa, cờ người, cờ bỏi…

Đây là lễ hội lớn thứ hai ở Thành Nam xưa (Nam Định), chỉ sau lễ hội Phủ Giày.

Trần Hưng

Theo trithucvn2.net

Chuyên đề: ,

Chưa có ý kiến... bạn sẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến!

Ý kiến bạn đọc