Home » Cổ truyền, Tiêu biểu sideshow, Văn hóa » Sĩ tử xưa kia “vinh quý bái tổ” như thế nào

Xưa kia lễ “vinh quy bái tổ” là một nét đẹp trong văn hóa, các sĩ tử đỗ đại khoa vinh quy bái tổ đi qua làng nào, dân chúng làng đó đều đến xem đông như trẩy hội. Đoàn rước tân đại khoa có đầy đủ võng ngựa, cờ trống rộn ràng, dân chúng hò reo rồi cùng bàn tán “nghe nói nhà ấy ăn ở có đức…”

Tranh dân gian: Vinh quy bái tổ.

Tranh dân gian: Vinh quy bái tổ.

Thường thì cứ 3 năm có một khoa thi, kết thúc khoa thi các tân đại khoa lại được Triều đình ban chỗ mũ áo cùng đoàn rước ngựa vinh quy bái tổ trong niềm vui sướng hân hoan của dân làng quê nhà, đoàn rước đi đến đâu dân chúng đều đến xem đông như trẩy hội,

Vào thời kỳ nhà Lý bắt đầu có các kỳ thi khoa bảng, và cũng từ đó đã có lệ “vinh quy bái tổ”, sĩ tử đỗ đạt sẽ được ban cho võng ngựa, mũ áo trở về quê nhà bái tổ trước sự chứng kiến của đông đảo dân chúng. Tên tuổi sẽ ghi lại vào sử sách cũng như gia phả dòng họ.

Tuy nhiên thời nhà Lý chưa có quy định cụ thể, việc vinh quy bái tổ như thế nào không thấy có ghi chép. Đến thời vua Lê Thánh Tông, cùng với sự phát triển của Nho học, có các quy định thực hiện việc vinh quy bái tổ rất nghiêm, làng nào có người đỗ đại khoa đều tổ chức nghi lễ đón rước rất đầy đủ, thể hiện sự tôn kính với những người đỗ đạt.

Người đầu tiên vinh quy bái tổ có đầy đủ nghi lễ được ghi chép là Phạm Đôn Lễ đỗ Trạng nguyên khoa thi năm 1481 thời vua Lê Thánh Tông.

Vinh quy bái tổ đầy đủ nghi lễ, những người đỗ đại khoa được ban mũ áo ứng với cấp bậc mà mình đã đỗ (như đỗ Trạng nguyên hay Thám hoa có trang phục khác nhau). Sau đó các sĩ tử thi đỗ dự buổi Truyền lô tức đọc danh sách đỗ đạt tại điện Thái hòa hoặc tại điện Ngọ môn (đây là hai nơi trang trọng nhất), và rước bảng vàng ra treo tại lầu Phu Văn. Lễ Truyền lô có từ năm 1822 thời nhà Nguyễn, còn trước đó chưa có.

Sau đó các sĩ tử được dự yến tiệc do Vua ban, sau đó được đến xem hoa ở vườn Ngự uyển, rồi được cưỡi voi hay ngựa dạo chơi khắp phố phường Kinh thành. Nguyễn Bính có bài thơ mô tả như sau:

Quan Trạng tân khoa tàn tiệc yến
Đi xem hoa nở mấy hôm liền
Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó
Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên
Thắp hương tôn nữ xin trời phật
“Phù hộ cho con được phỉ nguyền”.

Cảnh trường thi năm 1900. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Cảnh trường thi năm 1900. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Khi vinh quy về làng, sĩ tử được ban cho ngựa có lọng che trên đầu, cùng đoàn rước từ Kinh thành về quê nhà. Được ban cờ có thêu danh vị đỗ đạt như Trạng nguyên, hay cờ thêu Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, bên cạnh có nhiều các cờ xí rợp trời cùng tiếng trống rộn ràng đón tân khoa. Bốn góc vây quanh ngựa sĩ tử vinh quy có 4 lính hầu cầm quạt. Ngoài ra còn có người cầm tấm biển gỗ sơn son cán dài thêu bốn chữ “Ân tứ vinh quy” để thiên hạ chiêm ngưỡng.

Sĩ tử vinh quy đi qua làng nào thì địa phương đó phải cho dân chúng biết để chúc mừng tân khoa. Tiến sĩ vinh quy bái tổ đi đến đâu, tiếng trống giục dã khiến dân chúng đến xem náo nhiệt như trẩy hội, rồi cùng đồn đoán xem vị ấy người làng nào? Đỗ được chắc phải siêng năng lắm, rồi nghe nói nhà ấy hiền lương lắm nên chắc thế mà có phúc, v.v…

Rồi bàn đến chuyện cả cha mẹ vị đại khoa ấy thế nào, rồi ai cũng đều vui vẻ nói nhà ấy ai cũng ăn ở phúc đức nên mới được vinh như thế.

Trước khi vinh quy bái tổ, Triều đình có thông báo với làng quê của sĩ tử đỗ đại khoa để làng chuẩn bị nghi lễ đón tân khoa tại Đình làng. Sĩ tử khi vinh quy về làng sẽ được làng đón tiếp tại Đình với đầy đủ lễ nghi, sau đó đến bái tổ tại nhà thờ tổ dòng họ, rồi đến trường hay nhà thầy dạy, cuối cùng là nơi thờ tự gia đình.

Làng nào có người đỗ đại khoa, nhất là đỗ Trạng nguyên thường phải chuẩn bị lễ đón đến mấy ngày liền nên khá vất vả, nhưng hầu hết mọi người đều rất vui vì làng mình có người đỗ đạt. Đến thời nhà Nguyễn thì do việc chuẩn bị đón sĩ tử vinh quy bái tổ vất vả, nên nhiều sĩ tử khi đỗ đạt đã lược bỏ bớt những thủ tục vất vả nhằm cho dân làng bớt đi khó nhọc để cùng chung vui đón mình vinh quy bái tổ về làng.

Sau lễ vinh quy bái tổ, mọi người chứng kiến vẫn rôm rả bàn tán, từ đó nhắc nhở con em mình học tập; hay nhà nào có người sắp dự khoa thi tới thì tự nhắc mình nên ăn ở có đức để nhà mình cũng có người đỗ đạt.

Con gái đến tuổi kết duyên cũng mong muốn mình được kết duyên với học trò nào siêng năng học hành, lại có đức độ, dẫu có phục vụ chồng vất vả, nhưng nếu được đỗ đạt vinh quy bái tổ về làng cũng đáng.

Thật tự hào cho những người vợ chứng kiến cảnh chồng vinh quy bái tổ về làng. Nhà thơ Nguyễn Bính cũng có bài thơ mô tả vợ nuôi chồng là học trò như sau:

“Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa
Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng
Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường
Tôi ra đón tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa, cả làng ra xem
Đêm qua mới thật là đêm
Ai đem giăng sáng giãi lên vườn chè”.

Trẻ em cũng như các sĩ tử đang đi học khi chứng kiến lễ vinh quy bái tổ thì thêm động lực rèn dũa chữ Thánh Hiền. Không chỉ rèn chữ mà rèn cả nhân cách theo tiêu chuẩn kinh điển của Nho gia, với hy vọng sau khi đỗ đạt sẽ đem chữ Thánh Hiền an bang tế thế phụng sự cho Giang Sơn Xã Tắc.

Trần Hưng

Theo trithucvn2.net

Chuyên đề:

Chưa có ý kiến... bạn sẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến!

Ý kiến bạn đọc